|
Thời gian qua, nhiều bệnh viện đã áp dụng điều trị bệnh u xơ tử cung (UXTC) thành công bằng phương pháp tắc mạch, không sử dụng phẫu thuật. Theo đánh giá, phương pháp này không gây “thiệt thòi” cho phụ nữ bị bệnh vì không phải cắt đi tử cung.
Triệt khối u nhanh
Bệnh nhân Nguyễn Thị Kim O, 34 tuổi, huyện Trảng Bon, tỉnh Đồng Nai bị bệnh UXTC gây rong kinh, rong huyết kéo dài. Tuy đã được tiến hành phẫu thuật cắt UXTC bằng nội soi tại TPHCM, nhưng một năm sau lại xuất hiện những khối u mới. Bệnh nhân O đã 4 lần nạo buồng tử cung để cầm máu nhưng không khỏi. Sau khi được tư vấn tại Khoa chẩn đoán hình ảnh - BVĐK tỉnh Lạng Sơn để làm phương pháp nút mạch, 2 ngày sau bệnh nhân ổn định ra viện, hiện tại khối u teo hết, khỏe mạnh, lao động sinh hoạt bình thường.
Bệnh nhân Lường Quỳnh Ch – 28 tuổi ở tỉnh Sơn La phát hiện bị UXTC từ năm 2007. Bệnh nhân còn trẻ chưa có con nên gia đình yêu cầu được mổ bóc tách khối u xơ để bảo tồn tử cung, nhưng vì khối u xơ to thể dưới niêm mạc nên không thể mổ bóc tách được mà phải mổ cắt tử cung. Cũng tại Khoa Chẩn đoán hình ảnh, BVĐK Lạng Sơn, các bác sĩ đã tiến hành điều trị bằng phương pháp tắc mạch, 9 ngày sau siêu âm kiểm tra lại thấy hình ảnh tử cung bình thường.
 |
 |
|
Trước nút mạch, khối u xơ là 13cm. |
6 tháng sau nút mạch,
u xơ chỉ còn 2cm. |
Theo BS chuyên khoa II Hoàng Văn Măng, Trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh, BVĐK Lạng Sơn, các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành công của kỹ thuật này rất cao, khoảng 90% số bệnh nhân hết hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn triệu chứng ngay trong tháng đầu tiên sau nút mạch. Khối u xơ teo nhỏ dần sau 3 đến 6 tháng, các trường hợp có nhiều nhân xơ cũng đáp ứng tốt với kỹ thuật này. Nút UXTC là thế mạnh cho những bệnh nhân đã mổ bóc tách nhân xơ nay lại tái phát trở lại. Nhân xơ tái phát rất hiếm và gặp chủ yếu ở những bệnh nhân có u xơ trên 10cm. Cũng theo BS Măng, một nghiên cứu kéo dài 6 năm cho thấy không có trường hợp nào tái phát sau gây tắc mạch tử cung. Khả năng có thai sau nút UXTC của kỹ thuật này rất cao.
Tại Bệnh viện Quân đội 108, năm vừa qua cũng tiếp nhận khá nhiều bệnh nhân tới để thực hiện điều trị bằng phương pháp tắc mạch. Nhiều bệnh nhân nhập viện là những bệnh nhân trẻ, chưa có gia đình nên không muốn chọn phương pháp phẫu thuật cắt bỏ tử cung. Cũng theo nhận định của nhiều bác sĩ, bệnh nhân UXTC rơi vào đối tượng phụ nữ chưa chồng, trẻ tuổi ngày càng nhiều.
 |
|
Nhận dạng u xơ tử cung |
Thời gian nằm viện ngắn
Theo TS Lê Văn Trường, Trưởng khoa Can thiệp Tim mạch, Bệnh viện Quân đội 108, phương pháp tắc động mạch tử cung (Uterine Artery Embolization) điều trị u xơ là phương pháp can thiệp nội mạch ít xâm nhập, được áp dụng rộng rãi trên thế giới 13 năm qua và ở Việt Nam đã 8 năm nay. Ưu điểm của kỹ thuật này an toàn, hiệu quả cao, không phải mổ cắt tử cung, mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người bệnh. Từ năm 1995, khi phương pháp tắc động mạch tử cung trở thành kỹ thuật điều trị UXTC thường quy trên thế giới, đã có hàng chục ngàn bệnh nhân được áp dụng tiến bộ này với kết quả thành công từ 90 - 95%. Mục tiêu của phương pháp này là biến một UXTC có triệu chứng thành 1 sẹo tử cung không triệu chứng. Gọi là sẹo vì khối UXTC không còn máu nuôi sau tắc mạch, bị hoại tử vô trùng và teo dần đi. Mức độ teo nhỏ khác nhau tuỳ bệnh nhân, có thể mất hẳn trên siêu âm.
TS Trường cũng cho biết, bệnh UXTC rất thường gặp, có khoảng 30 - 40% số phụ nữ trong độ tuổi 30 - 50 mắc bệnh này. Đây là bệnh lành tính, phát triển từ từ, diễn biến lâm sàng rất đa dạng. Phần lớn bệnh nhân không có triệu chứng cơ năng. Những trường hợp này được phát hiện bệnh tình cờ qua kiểm tra siêu âm. Khối u có thể giữ nguyên kích thước hoặc thay đổi không đáng kể trong thời gian dài và không gây ra triệu chứng gì, thậm chí đến tuổi mãn kinh. Khoảng 30% số bệnh nhân có triệu chứng cơ năng, có thể là một hay nhiều trong số các dấu hiệu sau: Cường kinh, đau bụng kinh, có máu cục, đau hạ vị, đái tăng lần, khó thụ thai, dễ sảy thai...
TS Trường cho biết thêm, có nhiều phương pháp điều trị UXTC áp dụng cho từng trường hợp cụ thể. Hai nhóm phương pháp điều trị chính là bảo tồn và cắt triệt để. Điều trị bảo tồn bằng nội khoa có tác dụng giảm triệu chứng và giảm kích thước khối u, nhưng hiệu quả không lâu dài, triệu chứng dễ tái phát khi ngừng thuốc. Phẫu thuật bảo tồn bóc nhân xơ (myomectomy) có hiệu quả tốt, nhưng dễ tái phát, khó áp dụng cho các trường hợp nhiều u xơ. Phẫu thuật triệt để cắt tử cung (hysterectomy) toàn phần hoặc bán phần vẫn đang là kỹ thuật được áp dụng rộng rãi hơn cả ở các khoa và viện phụ sản.
|
Phương pháp điều trị này có thể áp dụng cho phần lớn các khối u với kích thước khác nhau. Tuy nhiên u càng lớn thì mức độ teo nhỏ khối u càng thấp, khả năng phải điều trị nhắc lại lần 2 càng cao và chi phí càng tốn kém. Để thực hiện phương pháp này, chỉ nên áp dụng cho các khối u có đường kính từ 10cm trở xuống. Các bệnh nhân có triệu chứng bệnh như: Đang có viêm nhiễm tiết niệu, sinh dục; bệnh ác tính; rối loạn đông máu; UXTC không tăng sinh mạch... |
Vân Khánh
|