GIỚI THIỆU BỆNH ÁN
• Bệnh nhân: Nguyễn Thanh P.; Nam; 35 tuổi.
• Nghề nghiệp: Nông dân.
• Địa chỉ: Huyện Hương Trà – Thừa Thiên Huế.
• Vào viện ngày: 21/9/2008, khoa Hồi sức cấp cứu, BVTW Huế.
• Tình trạng khi vào viện: T0: 38,50C; M: 120 l/p; HA: không đo được.
• Tiền sử: Xơ gan mất bù (nằm viện năm 2003).
• Khám: Da vàng đậm, bụng báng, gan lớn > 4cm dười sườn. Ở chân có những đám màu hồng nhạt
• Chẩn đoán lúc vào: Shock huyết nhiễm. Hôn mê gan/xơ gan.
Xét nghiệm:
• CTM: Hc: 6.9 x 109/l. Bc: 4.3 x 1012/l (Trong đó: N: 93,2%, L: 6,2% và M: 0,6%)
• SGOT: 315 PU/L (BT: 38); SGPT: 75 PU/L (BT: 41); Creatinin: 244 PU/mol/l (BT: 63-115).
• Cấy phân: Colibacilles. Soi phân: KSTĐR (-).
• Siêu âm: các quai ruột phù nề, không có dịch ở bụng.
• XQ phổi: bình thường.
• Cấy máu: Vibrio vulfinicus. Mẫu nghiệm được nuôi cấy bằng máy cấy máu BACTEC 9050 (Becton Dickinson). Thời gian phát hiện cấy máu dương tính: 12,5 giờ.
Diễn tiến bệnh:
• 7 giờ 50 ngày 21/9: vào viện.
• 10 giờ 30: Thở ngáp, HA không đo được ð bóp bóng hỗ trợ.
• 10 giờ 50: người nhà xin về.
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH DANH VI KHUẨN
- Cấy máu bằng máy BACTEC 9050.
- Nhuộm Gram.
- Cấy chuyển vào môi trường Mc Conkey, thạch máu.
- Định danh bằng máy tự động VITEK 2.
- Kháng sinh đồ.
  
BÀN LUẬN
• Đây là một loài vi khuẩn mới?
- Không phải. Mặc dù hiếm gặp nhưng vi khuẩn này đã được ghi nhận ở một vài nơi trên thế giới, mô tả đầu tiên là Hollis (1976), sau đó là Blake (1979). Tên gọi đầu tiên là Beneckea vulnifica hoặc Vibrio lactose (+). Đây là một phẩy khuẩn (không phải là phẩy khuẩn TẢ).
- Trong y văn có ghi nhận các trường hợp bệnh lý do vi khuẩn này nhưng không nhiều.
• Tình hình bệnh lý do Vibrio vulfinicus ở một số nơi:
Ở Mỹ:
-Vịnh Chesapeake, từ 1974-1988: có 10 trường hợp (Hoge, 1989).
-Vịnh Mexico, từ 1981-1993: 141 trường hợp nhiễm trùng máu và da (Hadly, 1996).
-Theo CDC, 1988-1996: 422 trường hợp nhiễm trùng máu và da (Shapiro, 1998).
Ở châu Á:
-Singapour, 3 trường hợp (Lee, 1997).
-Hàn Quốc, 79 trường hợp (Park, 1991).
-Đài Loan, 84 trường hơp từ 1995-2000 (Po-Ren Hsueh, 2004).
-Ở Việt Nam, chưa thấy ghi nhận trường hợp nào.
• Khả năng gây bệnh của V. vulnificus?
-VK vulnificus sản sinh ra nhiều nội độc tố, trong đó có độc tố gây viêm mô tế bào xuất huyết (endotoxin cytolysine hémolytique) .
-Là VK cơ hội, thường gây bệnh ở những người có hệ thống miễn dịch yếu , đặc biệt là những người có bệnh lý ở gan…
-Theo CDC, mỗi năm có khoảng 90 trường hợp bị nhiễm V. vulnificus ở Mỹ. Tỷ lệ tử vong vì bệnh nhiễm V. vulnificus là 40%. (Tài liệu ở Nhật Bản ghi nhận 68%).
•Những điều kiện làm cho bệnh nhân dễ bị nhiễm độc nặng Vibrio vulfinicus:
- Bệnh gan (viêm gan, xơ gan, nghiện rượu, hoặc ung thư…)
- Bệnh tiểu đường
- Bệnh ung thư (bệnh bạch cầu, ung thư máu, ung thư hệ thống miễn nhiễm)
- Bệnh quá thừa chất sắt (hemochromatosis).
- Bệnh hoa liễu (HIV/AIDS).
- Dạ dày bị rối loạn (người đã bị mổ dạ dày, người đang dùng thuốc làm giảm độ axit trong dạ dày).
- Các thứ bệnh khác, hoặc những trường hợp bị phương pháp trị liệu làm yếu hệ thống miễn dịch (như hóa liệu pháp)…
• Các biểu hiện lâm sàng?
- Viêm dạ dày – ruột (Gastroentérites): ít gặp và ít nghiêm trọng. Biểu hiện: sốt, ớn lạnh, buồn nôn, đau dạ dày, nôn mửa, tiêu chảy …
- Nhiễm trùng nghiêm trọng(Infections sévères): trong vòng 48 giờ đến 7 ngày sau khi nhiễm vi khuẩn. Bệnh tiến triển nhanh, nhiễm trùng huyết bùng phát với tỷ lệ tử vong thường >50% trong vòng 48 giờ (Đôi khi không kịp khai thác bệnh sử).
- Đôi khi bệnh biểu hiện bởi một nhiễm trùng da thứ phát. Tiến triển nặng như: viêm mô tế bào (cellulite), đến những thương tổn bọng nước (lésions bulleuses), đôi khi hoại tử nhanh chóng. Tỷ lệ tử vong có thể đến 20%.
• Một số hình ảnh biểu hiện ở da thường gặp (ảnh sưu tầm)
  
 
ĐIỀU TRỊ
Mục đích điều trị:
Loại trừ vi khuẩn, giảm tỷ lệ tử vong và ngăn ngừa biến chứng.
Kháng sinh điều trị:
Tetracyclin (Doxycyclin), các Cephalosporin thế hệ 3 và Imipenem.
Đối với bệnh nhân bị hoại tử mô mềm: cắt lọc sớm và điều trị kháng sinh.
Chăm sóc đặc biệt: đối với bệnh nhân bị shock giảm HA, giảm albumin máu nặng, nhất là những bệnh nhân bị giảm chức năng gan, đái tháo đường …
PHÒNG BỆNH
Để phòng nhiễm khuẩn Vibrio vulnificus, giới y học khuyến cáo nên tránh bị những vết thương hở khi tắm biển hoặc tắm nước mặn; rửa sạch những vết
thương hở và băng bó cẩn thận.
Đeo găng tay khi chế biến hải sản.
Nấu chín hải sản trước khi ăn; đối với những hải sản có vỏ hoặc mai, cần luộc thêm 5 phút sau khi vỏ hoặc mai mở, hay hấp thêm 9-10 phút, vì vi khuẩn
Vibrio vulnificus rất dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ cao khi đun nấu, không nên ăn hải sản khi vỏ hoặc mai chưa mở. Tránh ăn hàu sống.
Nếu có những triệu chứng của nhiễm khuẩn như cơ thể đau nhức, da mẩn đỏ và sưng tấy, cần đến ngay các cơ sở y tế gần nhất để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
ThS.BS. Mai Văn Tuấn
(Khoa Vi Sinh, BVTW Huế)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Geneviève Grise CH ELBOEUF: “A propos de la première infection à Vibrio vulnificus sur le littoral de la Manche”.
2. “Giới Thiệu Vi Khuẩn Vibrio vulnificus”, http://safeoysters.org/consumers/index_v.html
3. “Khuẩn “ăn thịt người” và những ca nhiễm mới”, (SK&ĐS-Tổng hợp từ Hongkong News, Baltimore Sun, Science Daily, 8/2005).
4. Kikawa et al., (1990), “Successfully Treated Case of Vibrio vulnificus Septicemia with Shock”, Jpn J Med Vol 29, No 3.
5. Po-Ren Hsueh et al., “Vibrio vulnificus in Taiwan”, Emerging Infectious Diseases • www.cdc.gov/eid • Vol. 10, No. 8, August 2004
Robert A Schwartz (2008), “Vibrio vulnificus Infection”, eMedicine Article Last Updated: Apr 23, 2008. |