Tiếng việt English
GIỚI THIỆU CHUNG
CÁC PHÒNG CHỨC NĂNG
KHOA LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG
HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN
ỨNG DỤNG CỦA PCR TRONG Y HỌC
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG MÁU DO Vibrio vulnificus
THẦY THUỐC CŨNG CÓ THỂ LÀ NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH.
Tin sinh hoat chuyên môn
Điều trị són tiểu gắng ở phụ nữ
LĨNH VỰC MŨI NHỌN
HỢP TÁC QUỐC TẾ
TIN TỔNG HỢP TRONG THÁNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CHỈ ĐẠO TUYẾN TRƯỚC
HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG
VIDEO TƯ LIỆU
HỎI ĐÁP - ĐƯA TIN
BAN BIÊN TẬP
Số người truy cập:
Hướng dẫn khám chữa bệnh ngoại trú tại Bệnh Viện TW Huế   Nội soi can thiệp lấy đỉa sống 2 tháng trong thanh khí quản của bệnh nhân   Phẫu thuật chuyển giới tính lần đầu tiên tại khu vực miền Trung ở BVTW Huế   Bệnh viện TW Huế với công tác hỗ trợ tuyến dưới   Nhân một trường hợp cấp cứu bệnh nhân phù phổi cấp tổn thương do ngạt nước tại BVTW Huế   Điều trị Vô sinh-Hiếm muộn tại khoa Sản, Bệnh viện Trung ương Huế   Bệnh u xơ tuyến tiền liệt   Cắt thực quản nội soi tại Bệnh viện Trung ương Huế   Trao kỷ niệm chương và công bố quyết định Trưởng, Phó Khoa, Phòng, Trung tâm của BVTW Huế  
HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN
ỨNG DỤNG CỦA PCR TRONG Y HỌC

 

1. KỸ THUẬT PCR (Polymerase chain reaction-Phản ứng chuỗi polymerase)

            1.1. Quá trình phát hiện kỹ thuật  PCR

            Vào một buổi tối cuối tuần của tháng 4 năm 1983, trong lúc đang lái xe trên đường ở gần vùng đồi núi của California, một ý tưởng loé lên trong đầu của Kary Mullis khi ông phải lùi xe lại do chạy lố đường, hình ảnh hai làn bánh xe mới tách khỏi hai làn bánh xe cũ: « Dùng nhiệt độ tách sợi đôi ADN thành hai mạch đơn ». Lúc đó Kary Mullis chỉ là một nhà hoá sinh học bình thường, đang làm việc trong một phòng thí nghiệm nhỏ.

            Từ ý tưởng đó, Kary Mullis đã phát minh ra kỹ thuật PCR (phản ứng chuỗi polymerase) vào năm 1985, tạo nên một cuộc cách mạng lớn trong đời sống khoa học. Chỉ sau 8 năm (1993), K. Mullis đã được trao giải Nobel về hoá học nhờ phát minh này.

 

 

 

            1.2. Nguyên lý của kỹ thuật PCR

            Từ một đoạn ADN chọn lọc , nó sẽ được nhân lên gấp hàng triệu lần hoặc hơn nữa trong một thời gian ngắn. Trong thời gian này, sự sao chép ADN được tạo ra trong môi trường in vitro như trong quá trình phân bào.

            Để tạo được quá trình này, trước tiên chuỗi ADN kép được làm nóng đến mức bị tách thành hai nhánh đơn. Làm nguội các nhánh đơn này rồi nhờ xúc tác của enzym ADN polymerase và các tiền chất deoxynucleotid tương ứng để nhánh ADN bổ sung được tổng hợp. Trong ống nghiệm, quá trình này không thể tự xảy ra được mà phải có các đoạn ADN mồi (primers) sẽ tổng hợp với những vị trí bổ sung trên hai chuỗi đơn. Các đoạn mồi khởi động đặc thù thường được tổng hợp nhân tạo. Từ vị trí gắn của mồi khởi động, nhánh bổ sung sẽ được tổng hợp. Mồi khởi động mang tính đặc thù riêng cho mỗi ADN có trình tự nhất định. Với mỗi loại mồi khởi động thì chỉ ADN đặc hiệu với nó được sao chép.

            Sau khi các chuỗi bổ sung đã được tổng hợp xong, hai chuỗi kép được tạo thành qua quá trình này sẽ lại được dùng nhiệt để tách ra và quá trình tổng hợp lại được lặp lại như trên để sản sinh ra 4 chuỗi ADN và cứ như thế tiếp diễn.

            Bằng cách sử dụng một loại ADN polymerase bền với nhiệt (Taq polymerase), có thể trộn lẫn bệnh phẩm với các tiền chất  deoxynucleotid, mồi thử cho hai chuỗi và polymerase, sau đó hỗn hợp này được đưa vào chu trình xử lý bằng nhiệt độ thích hợp với sự tách chuỗi, tiếp cận của mồi và tổng hợp các chuỗi bổ sung. Trong vòng 60 phút, sự khuếch đại có thể lên đến 1 triệu lần. ADN khuếch đại sẽ dễ dàng được phát hiện bằng các phương pháp khác nhau, thông thường nhất, bằng điện di trên gel agarose và nhuộm bằng ethidium bromide.

            ADN polymerase chịu nhiệt đầu tiên được sử dụng có nguồn gốc từ vi khuẩn Thermus aquaticus (Taq polymerase). Hiện nay, hầu hết Taq polymerase đều được trích từ E. coli tái tổ hợp.

 

2. ỨNG DỤNG CỦA KỸ THUẬT PCR TRONG Y HỌC

            Bằng kỹ thuật PCR, từ một lượng khuôn ADN rất nhỏ như: một giọt máu, một sợi tóc hay một tế bào… người ta có thể khuếch đại chính xác, trật tự một lượng lớn lên đến hàng triệu bản nhằm phục vụ cho các quá trình khảo sát trong phản ứng. Trong công nghệ sinh học, PCR được sử dụng trong việc lập bản đồ gen, phát hiện gen, dòng hoá gen, giải mã trình tự ADN…

            PCR được ứng dụng rất rộng rãi trong y học: trong chẩn đoán bệnh ung thư (tìm HPV trong ung thư cổ tử cung, phát hiện gen APC trong ung thư đại tràng, gen BRCA 1 - BRCA 2 trong ung thư vú, gen TPMT trong bệnh bạch cầu trẻ em, gen IgH và TCRy trong u lympho không Hodgkin, gen Rb-105 trong u nguyên bào lưới, gen NF-1,2 trong u xơ thần kinh…), nghiên cứu về hệ kháng nguyên bạch cầu người (HLA, human lymphocyte antigen)…

            Trong Vi sinh học, PCR là một phương tiện hữu dụng để phát hiện các tác nhân vi sinh vật gây bệnh trong các trường hợp:

            * Tác nhân không thể nuôi cấy thường quy: như các virus (viêm gan B, viêm gan C,  Dengue, HIV, Herpes, CMV, EBV, HPV, virus SARS, H5N1…), các vi khuẩn (Chlamydia, Legionella, Mycoplasma, Treponema pallidum…).

            * Tác nhân nuôi cấy thường quy cho kết quả chậm: M. tuberculosis.

            * Tác nhân nuôi cấy thất bại vì có mặt rất ít trong bệnh phẩm, đã bị điều trị kháng sinh trước đó (vd: Lao thất bại nuôi cấy, viêm màng não mủ mất đầu…).

            PCR cũng được dùng để xác định độc tố của vi sinh vật: Tiểu đơn vị A của độc tố ruột không chịu nhiệt của Escherichia coli, và gần đây, các gen elta và elfB của E.coli sinh độc tố ruột (enterofoxigenic Escherichia Coli, ETEC); vt1 và vt2 của E. coli gây chảy máu đường ruột (enterohemorrhagic Escherichia coli; EHEC); eaeA và bfpA của E. coli gây bệnh đường ruột (enteropathogenic Escherichia coli; EPEC); ial của E.coli xâm nhập đường ruột (enteroinvasive Escherichia coli; EIEC) và Shigella đã được khuyếch đại bằng PCR nhằm chẩn đoán phân biệt giữa các loại Escherichia coli gây tiêu chảy.

PCR khuyếch đại các gen nói trên đã thay thế hoặc bổ sung cho các thử nghiệm kinh điển có độ nhậy và độ đặc hiệu kém hơn hoặc là thay thế cho các kỹ thuật phức tạp hơn.

Độc tố ruột của vi khuẩn tả (CT - cholera toxin) đóng vai trò chủ đạo trong cơ chế gây bệnh của chúng. PCR đã được dùng khuyếch đại đoạn gen mã hoá cho CT; nhờ đó, có thể phân biệt một cách chắc chắn Vibrio cholerae gây bệnh tả thực sự với các Vibrio cholerae khác, thuộc các nhóm huyết thanh không gây bệnh tả (trước đây gọi là các Vibrio không ngưng kết; nonagglutination, NAG). Clostridium difficile cũng được định loại thông qua xác định các loại độc tố riêng biệt của chúng bằng PCR.

            PCR còn được dùng để nghiên cứu về tính kháng thuốc của vi khuẩn. Từ trước đến nay, tính kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh được xác định bằng các kỹ thuật dựa trên nuôi cấy như kháng sinh đồ theo Kirby Bauer (khuếch tán trên thạch) và xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC - Minimal Inhibitory Concentration). Các kỹ thuật này chiếm nhiều thời gian nên khó cho phép có định hướng điều trị kịp thời trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp. Ngoài ra, các kỹ thuật nuôi cấy có hiệu quả phục vụ điều trị không cao đối với một số vi sinh vật, như Mycobacterium tuberculosis, có thời gian tăng trưởng rất dài (nhiều tuần lễ). Với kỹ thuật PCR, người ta có thể phát hiện nhanh tính kháng thuốc của các chủng vi khuẩn gây bệnh qua khảo sát gen kháng thuốc. Ví dụ, khảo sát gen pbp1a2a của Streptococcus pneumoniae bằng kỹ thuật PCR-SSCP, kỹ thuật PCR phát hiện đột biến kháng Rifamicin ở gen rpoB , phát hiện kháng INH do thiếu gen catalase (gen Kat G) của vi khuẩn Lao...

            Trong lĩnh vực ký sinh trùng, người ta dùng kỹ thuật PCR trong chẩn đoán lỵ amíp, Leishmania, Echinococcus, Microsporidia, Giardia, Cryptosporidium, Toxoplasma gondii

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoàng Minh (2001), «Một số kỹ thuật sinh học phân tử hoá sinh và vi sinh trong chẩn đoán bệnh lao». Tạp chí Thông tin y dược, số 12, tháng 12 năm 2001.

2. Lê Văn Phủng (2001), «Một số ứng dụng của PCR trong vi sinh vật». Tạp chí Y học thực hành 2001.

3. Hoàng Văn Sơn (2002), «Thành tựu mới của sinh học phân tử trong ung thư học». Tạp chí Thông tin y dược, số 2, tháng 2 năm 2002, tr. 8 -10.

4. Phạm Hùng Vân (1996). «Phản ứng chuỗi polymerase (PCR), một cuộc đại cách mạng trong sinh học phân tử». Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh. Số đặc biệt năm 1996, tr. 27 - 35.

5. Banavaliker J.N., Bobby Bhalotra, Sharma D.C., Manoj K. Goel (1998), «Identification of Mycobacterium tuberculosis by polymerase chain reaction in clinical specimens». Ind J Tub, 45. 15.

6. Richard Frothingham (1996), « Applications of the polymerase chain reaction to infectious disease diagnosis ». Ann Saudi Med1996; 16: 657 - 665. Review Article.

7. Wayne W. Grody (2006), «Molecular Diagnostics Overview and Focus on Infectious Diseases: An Expert Interview».  PRIVATEMedscape PathologyPRIVATE "TYPE=PICT;ALT=" Expert Interview .

 

ThS.BS. Mai Văn Tuấn, khoa Vi Sinh-BVTW Huế

(Tổng hợp từ các tài liệu)

 

 

Hướng dẫn khám chữa bệnh ngoại trú tại Bệnh Viện TW Huế
Nội soi can thiệp lấy đỉa sống 2 tháng trong thanh khí quản của bệnh nhân
Phẫu thuật chuyển giới tính lần đầu tiên tại khu vực miền Trung ở BVTW Huế
Bệnh viện TW Huế với công tác hỗ trợ tuyến dưới
Nhân một trường hợp cấp cứu bệnh nhân phù phổi cấp tổn thương do ngạt nước tại BVTW Huế
Điều trị Vô sinh-Hiếm muộn tại khoa Sản, Bệnh viện Trung ương Huế
Bệnh u xơ tuyến tiền liệt
Cắt thực quản nội soi tại Bệnh viện Trung ương Huế
Trao kỷ niệm chương và công bố quyết định Trưởng, Phó Khoa, Phòng, Trung tâm của BVTW Huế
Lãnh đạo Đảng và nhà nước
đến thăm bệnh viện





HỢP TÁC QUỐC TẾ
HOẠT ĐỘNG ĐẢNG & ĐOÀN THỂ





LÃNH ĐẠO BỆNH VIỆN
KHUNG CẢNH LÀM VIỆC
BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG - HUẾ
Địa chỉ: 16 Lê Lợi - Huế. Điện thoại: 054 3822325. Fax: 054 3823324. Email: bvtwhue@dng.vnn.vn
Thiết kế & phát triển bởi Phòng CNTT - BVTW Huế