Đặc điểm tình hình Thành lập năm 1894 theo chỉ dụ của Vua Thành Thái, Triều Nguyễn – Là Bệnh viên tây y đầu tiên ở Việt Nam. Là một trong ba bệnh viện đa khoa trung ương lớn nhất cả nước, Bệnh viện đang phấn đấu về mọi mặt để đạt chuẩn Bệnh viện Đặc biệt. Số giường bệnh: 21700 giường và 70 giường lưu, trong thực tế luôn quá tải đến 2200-2500 giường. Diện tích 10 ha, gồm 120 ngôi nhà lớn nhỏ, trong đó có nhiều khu mới được xây dựng và nâng cấp với cơ sở vật chất và các trang thiết bị hiện đại ngang tầm khu vực và thế giới như: Khoa Nhi, Trung tâm Kỹ thuật cao, Trung tâm tim mạch, Trung tâm Huyết học - Truyền máu, Trung tâm Đào tạo, Bệnh viện Quốc tế và điều trị theo yêu cầu, Khu Hậu cần, Trung tâm Ung bướu, Trung tâm Sản - Phụ khoa,... Đáp ứng mọi nhu cầu khám chữa bệnh kỹ thuật cao và tiện nghi đầy đủ cho mọi đối tượng bệnh nhân. Chịu trách nhiệm trước Bộ Y tế về hoạt động khám chữa bệnh tuyến cao nhất, chỉ đạo tuyến, đào tạo, nghiên cứu khoa học,... trên địa bàn 14 tỉnh miền Trung và Tây nguyên.
Trang thiết bị hiện có: - Tổng số máy móc chuyên dụng: trên 2000 ĐV máy (không tính đến các thiết bị thông thường). Đáp ứng đầy đủ yêu cầu cho Bệnh Viện đa khoa hoàn chỉnh hạng I với các chuyên khoa hiện đại (33 phòng mổ các loại, 4 máy tuần hoàn ngoài cơ thể, 10 giàn mổ nội soi ống cứng,...). - Hầu hết các thiết bị đều do nguồn nâng cấp theo Trung tâm y tế chuyên sâu của Bộ y tế và từ các nguồn viện trợ của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ (ODA, AP,...). Triển khai kỹ thuật Ngoài các kỹ thuật của BVĐKTW Hạng đặc biệt, Bệnh viện Trung ương Huế còn triển khai các kỹ thuật cao theo tiêu chuẩn của Trung tâm y tế chuyên sâu, bao gồm. Triển khai thận nhân tạo (từ năm 1982), ghép thận (2001) với hàng chục trường hợp, lọc màng bụng,... Triển khai mổ tim kín (từ 1986), tim hở (1999). Cho đến nay thực hiện khoảng 1000 ca/năm với tổng số trên 5000 trường hợp. Đặc biệt, năm 2010 sẽ thực hiện trường hợp ghép tim đầu tiên - Đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn (1996), chụp, nong, đặt stent (1998), nối bắc cầu ĐM vành, đặt máy tạo nhịp 2 buồng (1999), 3 buồng, phẫu thuật điều trị rung nhĩ bằng sóng cao tần (RF), Phẫu thuật bắc 3 cầu động mạch vành,... - Nội soi chẩn đóan (1990), nội soi can thiêp (1996) cho đến nay đã thực hiện nhiều loại từ thường qui cho tới phức tạp: ERCP-SE lấy sỏi mật, stent đường mật - tuỵ, cầm máu ổ loét DD-TT, thắt các TM trướng, cắt polyp,... số lượng cho đến nay khoảng hàng chục ngàn ca.
- Phẫu thuật nội soi từ 1999, đến nay đã thực hiện trong tất cả các lĩnh vực: ngoại tiêu hóa, chấn thương chỉnh hình, tiết niệu, lồng ngực - tim mạch, ngoại nhi, thần kinh, sản phụ khoa, tai mũi họng, mắt,... (trung bình: hơn 2000 ca/năm), với các kỹ thuật tương đương như các trung tâm lớn tại Hà nội và TP Hồ Chí Minh. - Trung tâm HHTM: thực hiện hầu hết các kỹ thuật hiện đại về ATTM (HbsAg, HBsCg, HbsEg, HIV...). Giám sát an toàn truyền máu, thu gom và cung cấp máu trực tiếp cho các bệnh viện ở các tỉnh miền Trung và Tây nguyên. Là đơn vị thực hiện ghép tủy duy nhất tại miền Trung.
- Trung tâm điều trị hiếm muộn-vô sinh giai đoạn IUI, IVF,... là đơn vị triển khai thành công kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và trữ lạnh phôi thủy tinh hóa đầu tiên và duy nhất tại miền Trung, trong năm 2008 có khoảng 10 trẻ sơ sinh ra đời theo phương pháp IVF.
- Ngoài ra còn có nhiệm vụ đào tạo điều dưỡng, Cán bộ ĐH, sau ĐH và chỉ đạo tuyến huyấn luyện kỹ thuật, cầm tay chỉ việc,...cho các bệnh viện ở 14 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Trong năm 2010 sẽ tổ chức đào tạo BS CKI, CKII, Nội trú,...
- Cận lâm sàng: thực hiện được tất cả những yêu cầu các kỹ thuật tiên tiến và hiện đại đã triển khai theo yêu cầu bệnh viện Hang đặc biệt. Kết quả đạt được 350.000 lần khám/năm. 72.000 BN điều trị nội trú/năm. Phẫu thuật trên 20 ngàn ca/năm. |